From the FDA Drug Label
5.2 Hemorrhage Avoid using heparin in the presence of major bleeding, except when the benefits of heparin therapy outweigh the potential risks. Hemorrhage can occur at virtually any site in patients receiving heparin. Fatal hemorrhages have occurred Adrenal hemorrhage (with resultant acute adrenal insufficiency), ovarian hemorrhage, and retroperitoneal hemorrhage have occurred during anticoagulant therapy with heparin [see Adverse Reactions (6.1)].
Nguyên nhân gây ho ra máu trong và sau khi lọc máu có thể bao gồm:
- Hemorrhage (chảy máu) tại bất kỳ vị trí nào trong cơ thể do sử dụng heparin 1
- Tăng nguy cơ chảy máu ở những bệnh nhân có tình trạng bệnh lý như subacute bacterial endocarditis, severe hypertension, sau khi phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật não, tủy sống hoặc mắt 1
- Rối loạn chức năng đông máu như hemophilia, thrombocytopenia và một số vascular purpuras 1
- Bệnh lý đường tiêu hóa như ulcerative lesions và continuous tube drainage của dạ dày hoặc ruột non 1
- Bệnh gan với impairment của chức năng đông máu 1
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những thông tin này không trực tiếp đề cập đến ho ra máu trong và sau khi lọc máu, mà chỉ đề cập đến các tình trạng chảy máu có thể xảy ra khi sử dụng heparin. Do đó, cần phải cẩn thận khi đánh giá và xử lý các tình huống lâm sàng cụ thể.
From the Research
Hemoptysis trong và sau khi lọc máu có thể được gây ra bởi nhiều yếu tố liên quan đến quá trình lọc máu hoặc các tình trạng cơ bản ở bệnh nhân suy thận. Nguyên nhân phổ biến nhất là chống đông máu được sử dụng trong quá trình lọc máu, đặc biệt là heparin, có thể làm tăng xu hướng chảy máu [ 2 ]. Chức năng tiểu cầu bất thường do uremia, xảy ra ở bệnh nhân suy thận, làm tăng thêm nguy cơ chảy máu [ 2 ]. Quá tải dịch có thể dẫn đến phù phổi và gây ra chảy máu phế nang, trong khi việc loại bỏ dịch nhanh chóng trong quá trình lọc máu có thể kích hoạt các thay đổi về áp suất phổi, làm tổn thương các mạch máu nhỏ [ 2 ]. Các tình trạng phổi sẵn có như giãn phế quản, ung thư phổi hoặc lao có thể được lộ diện hoặc trở nặng trong quá trình lọc máu [ 3 ]. Các hội chứng phổi-thận như hội chứng Goodpasture hoặc viêm mạch liên quan đến ANCA có thể gây ra suy thận và chảy máu phổi đồng thời [ 4 ]. Nhiễm trùng liên quan đến lọc máu, đặc biệt là ở bệnh nhân có hệ miễn dịch suy giảm, có thể dẫn đến viêm phổi với chảy máu [ 4 ]. Quản lý bao gồm điều chỉnh các giao thức chống đông máu (sử dụng chống đông máu citrate khu vực hoặc giảm liều heparin), quản lý dịch cẩn thận, điều trị các tình trạng phổi cơ bản và theo dõi các dấu hiệu của chảy máu phổi [ 5 ]. Đánh giá ngay lập tức là rất quan trọng khi xuất hiện chảy máu, vì nó có thể chỉ ra một tình trạng nghiêm trọng cần can thiệp ngay lập tức [ 6 ].
Một số yếu tố khác cũng cần được xem xét, bao gồm:
- Sử dụng thuốc chống đông máu và các thuốc khác có thể ảnh hưởng đến quá trình chảy máu
- Tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân và các tình trạng bệnh lý khác
- Các yếu tố liên quan đến quá trình lọc máu, như loại máy lọc máu và kỹ thuật sử dụng
Tóm lại, quản lý chảy máu trong và sau khi lọc máu cần được thực hiện một cách cẩn thận và toàn diện, bao gồm cả việc điều chỉnh các giao thức chống đông máu, quản lý dịch, điều trị các tình trạng phổi cơ bản và theo dõi các dấu hiệu của chảy máu phổi [ 2 ].